câu chuyện về cao bá quát
Về nhà, bà kể lại câu chuyện khiến Cao Bá Quát vô cùng ân hận. Ông biết dù văn hay đến đâu mà chữ không ra chữ cũng chẳng ích gì. Từ đó, ông dốc hết sức luyện viết chữ sao cho đẹp.
Câu chuyện Cao Bá Quát bị tru di tam tộc cũng được đưa ra bàn tán sôi nổi. Theo đó, nhiều người không tin lời của Hưng do theo thông tin thì sau khi thi hành án tru di tam tộc, cụ Cao Bá Quát không thể có truyền nhân đời sau được. Tuy nhiên, theo lời giải thích từ Hưng, gia
Mục lục bài viết Kỳ liên (câu đối cờ) Kỳ thi (Thơ cờ) Kỳ ngữ (ngôn ngữ cờ) Kỳ phổ (Cờ phổ) Giai thoại Cao Bá Quát chơi cờ với Tự Đức Chơi cờ là một hoạt động giải trí cao cấp. Cờ tướng 32 quân, bàn cờ nho nhỏ, Sở hà Hán giới, đỏ […]
Hôm sau, chồng tôi bình thản trở về như chẳng có chuyện gì. Thấy tôi tức giận, anh còn quát mắng to hơn: Thứ Ba, 18/10/2022, 21:46 (GMT+7)
Tôi tức nghẹn, điên cuồng gọi vào số của chồng nhưng anh đã tắt máy. Hôm sau, chồng tôi bình thản trở về như chẳng có chuyện gì. Thấy tôi tức giận, anh còn quát mắng to hơn: “Cô một vừa hai phải thôi, vợ cũ thì cũng là vợ, tôi ngủ với cô ấy cũng chẳng có việc gì.
Ich Möchte Einen Reichen Mann Kennenlernen. Tại đây, Cao Bá Quát là thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa lớn, sử gọi là khởi nghĩa Cao Bá Quát 1854 - 1855. Triều đình Tự Đức 1848 - 1883 thẳng tay đàn áp và Cao Bá Quát đã anh dũng hy sinh vì nghĩa lớn. Về cái chết của Cao Bá Quát, người xưa cắt nghĩa rất nhiều cách khác nhau. Một trong số những cách cắt nghĩa đó đã được sách Bản triều bạn nghịch liệt truyện ghi lại như sau “Nguyên xưa, Cao Bá Quát làm gia sư cho quan Tri huyện Tiền Hải1. Viên Tri huyện này là Tú tài xuất thân, về hưu với chức Tri Huyện, được làm Thủ Chỉ xã Cửu Cao, huyện Văn Giang2. Xã ấy có viên Cai Tổng tên là Khản, vẫn tỏ ý không phục Tri huyện hồi hưu đang giữ chức Thủ Chỉ nên mỗi khi có việc làng, hắn thường hay kiếm cớ cản trở hoặc phá rối. Viên Tri huyện hồi hưu không sao chịu nổi, bèn bàn mưu tính kế với gia sư là Cao Bá Quát. Cao Bá Quát bèn sai một người học trò nghèo đến nhà Cai Tổng Khản xin ăn. Cai Tổng thử tài thơ văn, thấy tên học trò tinh thông hết cả. Nhân thấy Cai Tổng vừa sửa chữa cổng nhà, người học trò bèn dâng tặng câu đối rằng Đãng bình chính trực khan vương đạo, Cao đại quang minh thị ngã tâm. Nghĩa là Bằng phẳng, thẳng ngay là vương đạo, Cao lớn, quang minh ấy lòng ta. Viên Cai Tổng bèn lập tức cho để đôi câu đối này ở ngay phía ngoài cổng. Một hôm theo lệ làng, Cai Tổng Khản phải đem cỗ xôi gà ra đình làng để làm lễ. Mâm lễ vật được che bằng lọng màu vàng. Tri Huyện hồi hưu liền cho người cáo giác với quan trên là Cai Tổng lộng quyền, dám dùng lọng màu vàng để che mình, và câu đối trước cổng được đưa ra để làm bằng chứng cho sự ngạo mạn của viên Cai Tổng. Tri Huyện hồi hưu còn bịa đặt ra nhiều chuyện nữa, nên viên Cai Tổng bị khép vào tội bị chém đầu. Trước khi bị đem ra hành hình, viên Cai Tổng dặn vợ mình rằng, khi chôn hắn, phải bỏ thật nhiều giấy bút trong quan tài, và nói - Tội oan ức của ta giờ đây không thể biện bạch vào đâu được, nhưng khi xuống âm phủ, thế nào ta cũng quyết làm sáng tỏ. Ta nguyền rằng, kẻ nào bày mưu hãm hại ta rồi cũng sẽ phải chết như ta. Về sau, gia đình Cai Tổng và gia đình Tri Huyện hồi hưu đều bị lụn bại, Cao Bá Quát cũng tử nạn nên người ta cho đó là sự báo oán của viên Cai Tổng xã Cửu Cao. Thuyết này thật hoang đường, không thể tin hết được”. Lời bàn Tác giả BẢN TRIỀU BẠN NGHỊCH LIỆT TRUYỆN đã kết luận chí phải, bởi việc trong chuyện rất hợp với việc của Tri huyện xuất thân Tú Tài, với Cai Tổng xã Cửu Cao nhưng lại xa lạ với nhân cách Cao Bá Quát. Song le, tác giả của BẢN TRIỀU BẠN NGHỊCH LIỆT TRUYỆN hẳn là chỉ mới không tin ở sự báo oán nên mới phán như vậy, chớ mọi sự còn lại, ông đều tin. Cổ nhân và hậu thế, khác nhau chính là ở chỗ này. Ít nhiều mặc dầu, khi còn đương chức Tri huyện của huyện Tiền Hải, hẳn quan Tri huyện cũng đã từng xử kiện, từng lên mặt đạo đức và kỷ cương để trị kẻ nào dám vu oan giá họa, thế mà khi hồi hưu, kẻ vu oan giá họa hiểm độc và tàn ác vào hàng bậc nhất lại chính là quan. Ngao ngán thay! Cai Tổng Khản xã Cửu Cao quả đúng là… tầm nhìn không vượt ra khỏi xã. Quan hồi hưu thì quan vẫn cứ là quan, không biết giữ lễ với quan, tất nhiên chỉ có thiệt. Thuở ấy người làm quan gọi là người đi chăn dân hay đi trị dân. Quan Tri huyện cũng từng có thừa thãi kinh nghiệm của một đời… trị dân, thế thì cản trở quan đâu phải là chuyện dễ. Cai Tổng Khản còn nuôi chí kiện cáo dưới âm phủ, hóa ra, đến chết vẫn không nhận ra được rằng quan bao giờ cũng là quan. Nếu quả có âm hồn, thì hồn quan vẫn cứ là hồn quan, hồn Cai Tổng vẫn cứ là hồn Cai Tổng, húc vào hồn quan nào có khác gì húc đầu vào đá đâu. Cao Bá Quát bị giết. Cái chết của con người khả kính này được người đương thời cắt nghĩa theo cách của người đương thời. Ông chỉ có thể chết vì ông là nạn nhân của một cuộc báo oán. Chỉ có hồn ma của những kẻ quỷ quyệt mới đang tâm hãm hại Cao Bá Quát chớ dương thế này lẽ đâu lại có chuyện xót xa kia. Hình như cổ nhân muốn nói như vậy. Bao điều trớ trêu, cứ việc đổ hết cho âm phủ là hết chuyện. Dân xưa mà. ___________ 1. Nay huyện này thuộc tỉnh Thái Bình. 2. Thủ Chỉ là là chức đứng đầu hàng chức sắc trong xã.
*Uì` ncẠ6 -lm Oì \uìt <7;7-<744, quæ ờ hëan [gö Ugỉ, guyỎa Ncl Hïj, tểag Oậ` Acag9 aly tguồ`xà [gö Ugỉ, guyỎa Ncl Hïj, Gë Aồc. -Uguờ agọ, lm Oì \uìt sỜan trman `Ạag angçm ig, agƻan aỔc tcẽan hë trẹ tgõan jcag,`gĀj `gể vë vĀa gly `gử tỜt. Plu aëy, õan tglj ncl agcỌu iè tgc, agcỌu hẮa oỉ Ĝìag trƻỠt, `ţanagcỌu hẮa oỉ nclj ncử agƻan `uỜc `óan õan vẩa ncử agửan `gợ` vỤ igì` aglu trman trcỌu Ĝèagagë AnuyỄa. Jồt `ïu `guyỎa anậa vỌ lm Oì \uìt jë tl Ĝà gỊ` ờ `Ấp < -lm Oì \uìt hë quïa sƻ trman `uồ` aỔc eẪy Jỳ HƻƬan agƻan Ĝà oỉ trcỌu Ĝèag agë AnuyỄaxỪ trẠj, vë hë jồt agë tgƬ aỔc elag ờ ncửl tgẽ iỾ <3 trman hỉ`g sỪ vĀa gỊ` RcỎt Alj. ěƻƬantgỚc, õan ĜƻỠ` anƻỚc ĜỚc tõa vcag agƻ jồt tëc aĀan icỎt xuẤt6 RĀa agƻ Pcæu, \uìt võ tcỌa Gìa -Ugc Ĝìm Uóan, Uuy tgẤt tgỉag ěƻỚan", "UgẮa Pcæu, Ugìag \uìt". . . *PỼ angcỎp vĀa `gƻƬan6 -Anly igc lm Oì \uìt tglj ncl `uồ` igờc angģl ờ Jỳ HƻƬan PƬa Uïy, `ì` tì` pgảj `Ữlõan Ĝà oỉ trcỌu Ĝèag agë AnuyỄa `gm tgu ĜỜt, `Ấj tëan trử vë hƻu gëag, aæa Ĝà oỉ tgẤt hẬ` igõanêt. Uuy agcæa, `gể vộc `ma sỜ <040 oëc tgƬ, ?< oëc vĀa xuõc jë gẪu tgẽ oƻộ` ĜẮu sƻu tẮj ĜƻỠ``ţan ĜỮ `gm `göan tl tgẤy lm Oì \uìt hë jồt trman agửan `ïy oöt sìan tì` oẼan `gử Gìa hộaagẤt trman hỉ`g sỪ vĀa gỊ` eïa tồ`. Rë agửan tì` pgảj `Ữl õan ĜỀ hẬc tgỼ` sỼ hë jồt ncl tëc quú`gm aỌa vĀa gỊ` aƻộ` agë
Giáo dục Thứ bảy, 2/12/2017 1824 GMT+7 1824 2/12/2017 Quá xấu hổ vì chữ viết "như gà bới", Cao Bá Quát tự buộc tóc lên trần nhà, cùm chân vào chân bàn để luyện chữ. Theo Từ điển văn học, Cao Bá Quát là người rất bản lĩnh. Ông dù sống trong nghèo khổ nhưng khinh bỉ những kẻ khom lưng, luồn cúi để được giàu sang, và tự tin có thể tự thay đổi được đời mình. Khi ra làm quan, ông muốn đem tài năng giúp đời, nhưng rồi sớm nhận ra có những vấn đề không thể thay đổi. Những lúc thấy bất lực, ông muốn hưởng an nhàn. Nhưng khi chứng kiến nỗi thống khổ của nhân dân ông lại không thể. Cuối cùng, con đường ông lựa chọn là tham gia khởi nghĩa nông dân. Cột tóc lên trần nhà luyện viết chữ đẹp Là người thông minh từ nhỏ, năm 12 tuổi, Cao Bá Quát đã theo các bậc đàn anh lều chõng đi thi. Khi còn đi học ở Bắc Ninh, Cao Bá Quát nổi tiếng về tài văn thơ đối đáp thông minh và tài họa, nhưng lại viết chữ rất xấu. Tính khí tuy ngông ngạo, nghịch ngợm, nhưng bù lại ông rất chịu khó đọc sách, học hỏi và kiên nhẫn trong học tập. Học cũng như làm, bất kỳ khi nào ông cũng phải làm cho đến nơi đến chốn. Chân dung Cao Bá Quát. Xấu hổ với chữ viết như gà bới, đêm đến, ông thường thức khuya miệt mài tập viết chữ. Buồn ngủ quá, ông tự buộc tóc mình lên mái nhà để mỗi lần ngủ gật bị giật tóc đau, phải tỉnh lại. Ông còn buộc chân vào các cạnh bàn để không thể “chạy đi chơi”. Nhờ sự quyết tâm, kiên nhẫn, một thời gian sau, từ viết chữ xấu, Cao Bá Quát nổi tiếng khắp vùng về biệt tài viết chữ đẹp. Tương truyền, chữ viết của ông như “rồng bay phượng múa”, bút tích còn lại hiện nay được lưu lại trong bài đề tựa cuối cùng của Mai Am thi tập của công chúa Lại Đức, con gái vua Minh Mạng. Thời gian ở quê nhà, tài viết chữ đẹp của Cao Bá Quát vang xa khắp vùng. Người dân thường tới nhà ông xin câu đối về treo, nhất là vào các dịp tết. Không những viết chữ đẹp, Cao Bá Quát còn nổi tiếng về tài văn thơ. Ông có thể "xuất khẩu thành thơ", làm vế đối mọi lúc, mọi nơi, ý tứ rất chuẩn mực, sắc sảo. Tài năng văn chương của ông khiến ngay cả ông vua hay chữ Tự Đức cũng phải thán phục. Vua trực tiếp ca ngợi ông và người bạn Nguyễn Văn Siêu rằng “Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán”, nghĩa là văn như Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát, đời Tiền Hán không có ai bằng. Về sau, do tham gia khởi nghĩa nông dân, bị tru di tam tộc, các tác phẩm của ông bị tiêu hủy nhiều. Hiện nay, khoảng bài thơ và 21 bài văn xuôi của ông vẫn được lưu giữ. Nhà vua cũng phải kính nể Từ nhỏ, Cao Bá Quát và người anh sinh đôi Cao Bá Đạt đã nổi tiếng thông minh. Cao Bá Quát học giỏi hơn, nhưng cũng có tính cách ngang tàng hơn. Trong một lần biết tin vua Minh Mạng ngự giá Bắc thành, sắp đi qua Hồ Tây, thăm các thắng cảnh ở Thăng Long, Cao Bá Quát chủ động cởi đồ, lao xuống hồ tắm. Quan quân thấy vậy hoảng hốt, bắt ông trói lại. Khi bị giải đến trước mặt vua Minh Mạng, ông không hề tỏ ra sợ hãi mà còn lấy lý lẽ ra tranh cãi. Dù tỏ ra rất tức giận, sau khi thử tài đối đáp với Cao Bá Quát, vua Minh Mạng cảm phục và tha tội chết cho ông. Sau này khi lớn lên, vào Huế làm quan ở Bộ Lễ, Cao Bá Quát vẫn giữ tính ngang tàng. Ông rất căm ghét thói a dua, nịnh bợ của quan lại. Ngược lại, với người dân, ông luôn nhìn bằng ánh mắt bao dung, sẻ chia. Tự Đức vốn là ông vua hay chữ bậc nhất triều Nguyễn, rất thích trổ tài thơ phú, cũng nhiều lần bị Cao Bá Quát làm cho "quê mặt". Một lần, trước bá quan, văn võ, vua nổi hứng làm 2 câu đối treo ở điện Cần Chính “Con nối được nghiệp bố / Tôi đền được ơn vua”. Quan lại trong triều đều cho rằng đó là câu đối rất hay, nói lên được hai rường mối của đạo tam cương. Tuy nhiên, Cao Bá Quát lại nghĩ khác. Một lần đi qua, ông tự ý lấy bút phê vào bên cạnh mấy chữ có nội dung “Hay chưa! Hay chưa! Cha con vua tôi đảo lộn”. Việc đến tai Tự Đức, vua giận lắm, cho gọi Cao Bá Quát vào trị tội. Ông khảng khái trả lời “Tâu bệ hạ, thần nghe nói đạo vua tôi phải ở trên đạo cha con. Từ nghìn xưa vẫn cứ là vua trước, tôi sau, cha trước mà con sau. Bệ hạ để như vậy chẳng phải là đảo lộn hết rồi sao?”. Trước những lời đối đáp có lý của Cao Bá Quát, vua Tự Đức buộc lòng phải nhờ ông chỉnh sửa lại những lỗi trong vế đối của mình. Thời gian làm quan ở bộ Lễ, Cao Bá Quát nhiều lần tự ý chỉnh sửa nội dung một số bài thơ phú của vua Tự Đức. Chính vì thế, ông bị vua ghét, về sau bị hạ chức, phải chuyển đi làm Giáo Thụ ở Hà Tây. Sau khi từ quan về quê ở ẩn, tận mắt chứng kiến sự thối nát của xã hội đương thời, đời sống nhân dân thống khổ, Cao Bá Quát đã tham gia khởi nghĩa chống lại triều đình. Cuộc khởi nghĩa thất bại, ông chết trên chiến trận. Cuộc đời và tài năng của Cao Bá Quát Cao Bá Quát cùng với Nguyễn Văn Siêu tạo thành đôi tri kỷ văn chương được người đời ca ngợi là "thần Siêu thánh Quát". Dưới thời vua Thiệu Trị, năm 1841, Cao Bá Quát được cử làm Sơ khảo trường thi Thừa Thiên. Trong khi chấm bài, thấy 24 bài văn hay nhưng phạm húy, không muốn vì lỗi nhỏ mà đánh trượt người có tài, Cao Bá Quát cùng Phan Thời Nhạ ngầm lấy muội đèn làm mực chữa bài. Việc bại lộ, ông và Phan Thời Nhạ bị tuyên án tử hình. Về sau, cảm phục tài đức của ông, vua Thiệu Trị tha tội chết cho Cao Bá Quát, chuyển sang tống giam. Sau đó 3 năm, ông được cho đi sứ ở Indonesia để lập công chuộc tội. Video Thăng Long Nhân Kiệt VTV Cao Bá Quát luyện viết chữ đẹp Chữ viết cải tiến chữ viết luyện chữ đẹp Cao Bá Quát Bạn có thể quan tâm
Cao Bá Quát chưa rõ năm sinh, mất năm 1855, tự là Chu Thần, hiệu Mẫn Hiên, sinh tại làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh nay là xã Quyết Chiến, huyện Gia Lâm, Hà Nội.Từ khi còn nhỏ, ông đã nổi tiếng thông minh, can đảm, giỏi thơ văn, cương trực. Năm 1831, dưới đời vua Minh Mạng, ông thi Hương đỗ Á nguyên tại trường thi Hà Nội. Năm 1841, đời vua Thiệu Trị, khi có quan tỉnh Bắc Ninh tiến cử, Cao Bá Quát được triệu vào kinh đô Huế làm Hành tẩu ở bộ câu chuyện về Cao Bá Quát, trong đó nổi tiếng nhất là việc ông tự ý chỉnh sửa hàng loạt bài thi của sĩ Đại Nam thực lục, tháng 8/1841, Cao Bá Quát được cử làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên. Thấy một số bài thi hay nhưng có chỗ phạm trường quy, ông bàn với đồng sự là Phan Thời Nhạ lấy son hòa với muội đèn chữa lại 24 sự việc bại lộ, Cao Bá Quát nhận tất cả lỗi về mình. Sau khi án được dâng lên vua Thiệu Trị, tất cả các thành viên đều bị xử tội với những mức phạt khác nhau. Cao Bá Quát và Phan Thời Nhạ bị tội tử dung Cao Bá này, thấu hiểu nỗi lòng của cao Bá Quát, vua Thiệu Trị ra lệnh tha tội chết cho ông với lời phán rằng “chọn người tài giỏi là một điển lễ long trọng, bọn Quát dám làm trái phép như thế, khép vào tội nặng cũng đáng. Song ta nghĩ do sự khờ dại mà làm ra, chứ không có tình tiết gì khác, còn có thể khoan tha cho tội xử tử…".Nhờ đó, Cao Bá Quát được giảm án từ “trảm quyết” chém chết ngay thành “giảo giam hậu” giam lại, xử chết sau. Cuối cùng, ông bị tống gần 3 năm bị giam, tới năm 1843, ông cùng Đào Trí Phú đi công cán đến Indonesia để lập công chuộc tội. Sau chuyến đi trở về, ông lại được vào Viện hàn lâm để lo việc sưu tầm và xếp đặt văn 1850, do không được lòng một số quan lớn, Cao Bá Quát bị đày đi làm giáo thụ ở phủ Quốc Oai Sơn Tây cũ. Đến cuối năm 1850, đời vua Tự Đức, ông lấy cớ về quê chịu tang cha, sau đó xin ở lại nuôi mẹ già để thôi Giáp Dần 1854, chế độ phong kiến nhà Nguyễn ngày càng trở nên suy yếu, mục nát. Nhiều tỉnh ở miền Bắc gặp đại hạn lại bị nạn châu chấu làm cho mùa màng mất sạch, đời sống người dân cực Những điều chưa biết về cháu nội 7 đời của Cao Bá QuátTrong bối cảnh đó, Cao Bá Quát vận động một số sĩ phu yêu nước, các thổ hào ở vùng Quốc Oai, Vĩnh Phúc, Cao Bằng, Lạng Sơn... cùng nhau tôn Lê Duy Cự làm minh chủ, Cao Bá Quát làm quốc cùng thổ mục Sơn Tây là Đinh Công Mỹ và Bạch Công Trân dựng cờ nổi dậy tại Mỹ Lương, thuộc vùng Sơn Tây, chống lại triều đình đương thời. Cuộc khởi nghĩa thất bại, Cao Bá Quát tử trận năm chỉ nổi tiếng là người thẳng thắn, chính trực, Cao Bá Quát còn là nhà văn hóa lớn trong thế kỷ XIX. Ông có một sự nghiệp văn chương lừng lẫy, danh sau khi cuộc khởi nghĩa ở Mỹ Lương thất bại, nhiều tác phẩm của Cao Bá Quát bị thất lạc do triều đình thu đốt, cấm tàng trữ và lưu năm 1984, nhóm biên soạn sách Thơ văn Cao Bá Quát đã tìm đến kho sách cổ của Thư viện Khoa học kỹ thuật trung ương Hà Nội. Sau khi loại trừ những bài chắc chắn không phải của ông, nhóm này sưu tầm được trên nghìn bài được viết bằng chữ Nôm và Hán. Hiện, bài thơ và 21 bài văn xuôi của ông vẫn được lưu giữ. Từ nguyên mẫu Cao Bá Quát, nhà văn Nguyễn Tuân đã xây dựng hình ảnh nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm nổi tiếng “Chữ người tử tù”.Hình ảnh Huấn Cao trong tác phẩm của Nguyễn Tuân đại diện cho cái đẹp, từ tài viết chữ của một nho sĩ đến cốt cách ngạo nghễ phi thường của bậc trượng phu, tấm lòng trong sáng của người biết quý trọng cái đẹp, Cao nổi tiếng là người có tài viết thư pháp. Chữ viết không chỉ là ký hiệu ngôn ngữ mà còn thể hiện tính cách con người. Bổ ích Xúc động Sáng tạo Độc đáo
Bùi Thị Đào Nguyên Phần I Cuộc đời và sự nghiệp văn chương Cao Bá Quát 1809? – 1855, tên tự là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường, biệt hiệu là Mẫn Hiên. Ông là lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương nay thuộc thị xã Sơn Tây, Hà Nội, và là một nhà thơ nổi danh ở giữa thế kỷ 19 trong văn học Việt Nam. I. Thân thế & sự nghiệp Cao Bá Quát, người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh nay là xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Ông là con Cao Tửu Chiếu, tuy không đỗ đạt nhưng là một nhà nho khá nổi danh; và là em song sinh với Cao Bá Đạt cha Cao Bá Nhạ, tác giả Tự tình khúc. Thuở nhỏ, Cao Bá Quát sống trong cảnh nghèo khó, nhưng nổi tiếng là trẻ thông minh, chăm chỉ và văn hay chữ tốt. Năm 14 tuổi, ông trúng tuyển kỳ thi khảo hạch ở Bắc Ninh. Năm Tân Mão 1831 đời vua Minh Mạng, ông thi hương đỗ Á Nguyên tại trường thi Hà Nội, nhưng đến khi duyệt quyển, thì bị bộ Lễ kiếm cớ [1] xếp ông xuống hạng cuối cùng trong số 20 người đỗ Cử nhân. Sau đó trong chín năm, cứ ba năm một lần, Cao Bá Quát vào kinh đô Huế dự thi Hội, nhưng lần nào cũng bị đánh hỏng. Năm 1841, lúc này ông đã 32 tuổi, mới được quan tỉnh Bắc Ninh tiến cử lên triều đình, triệu vào Huế để nhận một chức tập sự ở bộ Lễ Hành tẩu. Tháng 8 năm đó, ông được cử làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên, thấy một số bài thi hay nhưng có chỗ phạm trường quy, ông bàn với bạn đồng sự là Phan Nhạ rồi lấy son hòa muội đèn chữa giúp 24 quyển. Việc bị phát giác, Giám trường thi là Hồ Trọng Tuấn đàn hặc, ông bị bắt giam, bị tra tấn rồi bị kết vào tội chết. Nhưng khi án đưa lên, vua Thiệu Trị đã giảm cho ông từ tội trảm quyết xuống tội giảo giam hậu, tức được giam lại đợi lệnh. Sau gần ba năm bị giam cầm khổ sở, ông được triều đình tạm tha, nhưng phải đi xuất dương hiệu lực tức lấy công chuộc tội đến vùng Hạ Châu Singapore trong phái bộ do Đào Trí Phú làm trưởng đoàn. Tháng 8 năm 1844, đoàn thuyền của phái bộ về đến Việt Nam, và sau đó Cao Bá Quát được gọi về bộ Lễ. Ở đây không lâu, ông bị thải hồi về quê. Trước đây, ông vốn ở phố Hàng Ngang nay gần phố Nguyễn Thái Học, năm 24 tuổi ông vào kinh thi Hội, thì vợ ông ở nhà đã xin phép cha chồng cho sửa lại một ngôi nhà gần Cửa Bắc về phía Hồ Tây và Hồ Trúc Bạch. Về Hà Nội, ông dạy học nhưng luôn sống trong cảnh nghèo và bệnh tật [2] Ở đây những lúc rỗi, ông thường xướng họa với các danh sĩ là Nguyễn Văn Siêu, Trần Văn Vi, Diệp xuân Huyên… Sau ba năm bị thải về, Cao Bá Quát nhận được lệnh triệu vào Huế 1847 làm ở Viện Hàm lâm, lo việc sưu tầm và sắp xếp văn thơ. Được hơn một tháng, ông nhận lệnh đi công cán ở Đà Nẵng, rồi trở về công việc cũ. Thời gian ở kinh lần này, ông kết thân với các văn nhân như Nguyễn Hàm Ninh, Đinh Nhật Thận, Nguyễn Phúc Miên Thẩm, Nguyễn Phúc Miên Trinh…và ông đã gia nhập Mạc Vân Thi xã do hai vị hoàng thân này sáng lập. Năm 1850 [3], không được lòng một số quan lớn tại triều, Cao Bá Quát phải rời kinh đô Huế đi làm Giáo thụ ở phủ Quốc Oai Sơn Tây cũ. Một lần nữa, ông lại trở về quê để cùng khổ với dân, để suy nghĩ thêm về những chính sách hà khắc của triều đình, để thêm quyết tâm đánh đổ nó. Giữa năm 1853, lấy cớ về nuôi mẹ già, ông xin thôi dạy học. Gặp lúc vùng Sơn Tây bị hạn nặng, lại có nạn châu chấu làm cho mùa màng mất sạch, đời sống người dân hết sức đói khổ. Phần thì phẫn chí, phần thì thương dân, khoảng cuối năm 1854, Cao Bá Quát tham gia lãnh đạo tự lãnh chức Quốc sư cuộc khởi nghĩa ở Mỹ Lương Sơn Tây, do Lê Duy Cự làm “Minh chủ”. Đang trong quá trình chuẩn bị, thì việc bị bại lộ. Trước cục diện này, Cao Bá Quát đành phải phát lệnh tấn công vào cuối năm 1854. Buổi đầu cuộc khởi nghĩa giành được một số thắng lợi ở Ứng Hòa, Thanh Oai…Nhưng sau khi quan quân triều đình tập trung đông đảo và tổ chức phản công thì nghĩa quân liên tiếp bị nhiều thiệt hại. Tháng Chạp năm Giáp Dần tháng Chạp năm này rơi vào năm dương lịch 1855, sau khi bổ sung lực lượng chủ yếu là người Mường và người Thái ở vùng rừng núi Mỹ Lương, Cao Bá Quát đem quân tấn công huyện lỵ Yên Sơn lần thứ hai. Phó lãnh binh Sơn Tây Lê Thuận đem quân nghênh chiến. Cuộc đối đầu đang hồi quyết liệt tại vùng núi Yên Sơn, theo sử nhà Nguyễn, thì Cao Bá Quát bị Suất đội Đinh Thế Quang bắn chết tại trận. Tiếp theo, thủ lĩnh Nguyễn Kim Thanh và Nguyễn Văn Thực cũng lần lượt sa vào tay đối phương sau, cả hai đều bị chém chết. Ngoài những thiệt hại này, hơn trăm nghĩa quân bị chém chết và khoảng 80 nghĩa quân khác bị bắt. Nghe tin đại thắng, vua Tự Đức lệnh cho ban thưởng và cho đem thủ cấp của nghịch Quát bêu và rao khắp các tỉnh Bắc Kỳ rồi giã nhỏ quăng xuống sông. II. Tác phẩm Ngay khi Cao Bá Quát tham gia cuộc khởi nghĩa ở Mỹ Lương Sơn Tây, các tác phẩm của ông đã bị triều đình nhà Nguyễn cho thu đốt, cấm tàng trữ và lưu hành, nên đã bị thất lạc không ít. Tuy vậy, trước 1984, nhóm biên soạn sách Thơ văn Cao Bá Quát, đã tìm đến kho sách cổ của Thư viện Khoa học kĩ thuật trung ương Hà Nội, và sau khi loại trừ những bài chắc chắn không phải của ông, thì số tác phẩm còn sót lại cũng còn được trên ngàn bài được viết bằng thứ chữ Nôm và chữ Hán. Cụ thể là hiện còn 1353 bài thơ và 21 bài văn xuôi, gồm 11 bài viết theo thể ký hoặc luận văn và 10 truyện ngắn viết theo thể truyền kỳ. Trong số này về chữ Nôm, có một số bài hát nói, thơ Đường luật và bài phú Tài tử đa cùng Bậc tài tử lắm cảnh khốn cùng. Về chữ Hán, khối lượng thơ nhiều hơn, được tập hợp trong các tập -Cao Bá Quát thi tập -Cao Chu Thần di thảo -Cao Chu Thần thi tập -Mẫn Hiên thi tập III. Sự nghiệp văn chương Tuổi trẻ của Cao Bá Quát được ghi lại bằng hàng loạt bài thơ tràn đầy khí phách Tài mai [Trồng mai], Thanh Trì phiếm châu nam hạ [Từ Thanh Trì buông thuyền xuôi nam], Quá Dục Thúy Sơn [Qua núi Dục Thúy]…. Trích hai câu trong bài Quá Dục Thúy Sơn Ngã dục đăng cao Hạo ca ký vân thủy Dịch Ta muốn trèo lên đỉnh cao ngất Hát vang lên để gửi tấm lòng vào mây nước… Nhưng rồi, mấy lần khăn gói vào Huế thi đều bị hỏng, nên mộng khoa cử đã tan. Năm 32 tuổi, lần đầu ông được bộ làm một chức quan nhỏ Hành tẩu bộ Lễ. Ở đây, ông bắt đầu cảm thấy nhục chí và bế tắc khi nhìn thấy cảnh thối nát, bất công và hèn yếu của nhà Nguyễn. Đến khi bị tù, bị tra tấn vì chữa những quyển thi, ông càng đau khổ, uất ức và căm thù cái triều đình ấy Cấm sở cảm sự, túng bút ngẫu thư [Nơi nhà giam nhân việc cảm xúc phóng bút viết ngay], Trường giang thiên [Một thiên vịnh cái gông dài], Đằng tiên ca [Bài ca cái roi song], Độc dạ cảm hoài [Ban đêm một mình cảm nghĩ]…. Trích mấy câu trong Trường giang thiên dịch Gông dài! Gông dài! Mày biết ta chăng? Ta chẳng có gì đáng hợp với mày cà! Mày biết thế nào được ai phải ai trái! Mày chẳng qua chỉ là cái máy làm nhục người đời mà thôi… Sau thời gian dương trình hiệu lực, Cao Bá Quát bị thảy về quê quán. Ông càng có nhiều dịp tiếp xúc với đời sống của nhân dân. Những cảnh người dân vì túng thiếu đói rét, phải đi xin ăn hay những cảnh họ bị bắt phu bắt lính…đều đã làm ông đau xót, day dứt Cái tử [Người ăn xin], Phụ tương tử [Người vác hòm], Quan chẩn [Xem phát chẩn]…. Đứng trước những cảnh tình ấy, cộng thêm nỗi đau của bản thân, cuối cùng đã dẫn ông đến những ý nghĩ hành động Ta đã không nỡ nghe mãi bài thơ Hoàng Điểu nói lên cảnh ly tán của nhân dân do chính sự hà khắc, thì lẽ nào chỉ chịu gửi gắm mãi tâm sự vào khúc ngâm của Gia Cát Lượng khi chưa ra giúp đời trích bản dịch bài Ngẫu nhiên nằm mơ đến thăm ông Tuần phủ… Tuy nhiên, mãi đến lần Cao Bá Quát bị đổi về làm Giáo thụ ở Quốc Oai, thì suy nghĩ mới trở thành quyết tâm đứng lên đánh đổ nhà Nguyễn Đối vũ [Nhìn mưa], Trích Tống Nguyễn Trúc Khê xuật lỵ Thường Tín kiêm trí Lê Huy vĩnh lão khê [Tiễn Nguyễn Trúc Khê ra nhận chức tại phủ Thường Tín, đồng thời gửi cho ông bạn già là Lê Huy Vĩnh]…. Trích giới thiệu Mặt trời đỏ lẩn đi đàng nào? Để dân đen than thở mãi… trích Đối Vũ Và Tài trai sống ở đời, đã không làm được việc phơi gan, bẻ gãy chấn song, giữ vững cương thường. Lại ngồi nhìn bọn cầm quyền sói lang hoành hành, Đến lúc tuổi già thì mặc áo gấm ban ngày về bôi nhọ quê hương. Chỉ cúi đầu luồn xuống mái nhà thấp, nhục cả khí phách, Đến lúc già thì gối đầu vào vợ con mà chết, Giả sử hạng người ấy xuống suối vàng gặp hai cụ Chu Văn An và Nguyễn Trãi, Thì cũng mặt dầy, trống ngực đánh, thần sắc rũ rượi ra mà thôi… Trích bản dịch nghĩa bài Tống Nguyễn Trúc Khê xuật lỵ Thường Tín kiêm trí Lê Huy vĩnh lão khê. Trích đánh giá trong Từ điển văn học bộ mới Cao Bá Quát là một nhà thơ rất có bản lĩnh. Từ những tác phẩm đầu tiên đã thấy lòng tin của nhà thơ vào ý chí và tài năng của mình. Ông sống nghèo, nhưng khinh bỉ những kẻ khom lưng uốn gối để được giàu sang, và tin rằng mình có thể tự thay đổi đời mình. Đến khi làm quan, muốn đem tài năng ra giúp đời, nhưng rồi Cao Bá Quát sớm nhận ra rằng vấn đề không hề đơn giản như ông tưởng. Có những lúc cảm thấy bất lực trong việc thay đổi, ông muốn hưởng nhàn, vào hưởng lạc như Nguyễn Công Trứ. Thế nhưng mỗi khi nghĩ đến những người cùng khổ bị áp bức, ông lại thấy cách đó là không thể, mà phải tìm một con đường khác. Cuối cùng, con đường mà ông chọn là đến với phong trào nông dân khởi nghĩa chống lại triều đình. Ngoài những chủ đề nêu trên, ông còn viết về vợ con, bè bạn, học trò và quê hương. Bài nào cũng thắm thiết, xúc động. Ông cũng có một số bài đề cao những anh hùng trong lịch sử, để qua đó thể hiện hoài bão của mình. Ông cũng có một số bài thơ viết về chuyện học, chuyện thi mà ông cho rằng chỉ là chuyện “nhai văn nhá chữ”. Trong dịp đi sang Hạ Châu, ông cũng có những bài thơ phản ảnh cảnh bất công giữa người da trắng với người da đen… Về mặt nghệ thuật, Cao Bá Quát là một nhà thơ trữ tình với một bút pháp đặc sắc. Ông làm thơ nhanh, có lúc “ứng khẩu thành chương”, nhưng vẫn thể hiện được cảm xúc vẫn dồi dào và sâu lắng. Và mặc dù hình tượng trong thơ ông thường bay bổng, lãng mạn, nhưng trong những bài viết về quê hương thì ông lại sử dụng rất nhiều chi tiết hiện thực gợi cảm. Ngoài ra, đối với thiên nhiên, ông cũng hay nhân cách hóa, coi đó như những người bạn tri kỷ tri âm… Trích thêm một số nhận xét khác -GS. Dương Quảng Hàm Cao Bá Quát là một văn hào có nhiều ý tứ mới lạ, lời lẽ cao kỳ. -GS. Thanh Lãng Tư tưởng độc lập của Cao Bá Quát khác cái chí nam nhi của Nguyễn Công Trứ. Ông Trứ lập nghiệp là để giúp vua, để chu toàn nghĩa quân thần; còn ông Quát mang cả cái mộng thay đổi thời cuộc và chuyển vần số mệnh…Về mặt nghệ thuật, sở trường của ông là thể phú và thể ca trù. Hai thể này, với ông đã vươn tới một trình độ nghệ thuật tuyệt vời. Có điều ông hay lạm dụng chữ nho và điển tích, vì vậy có thua kém Nguyễn Công Trứ về thể loại ca trù. -Thi sĩ Xuân Diệu Cao Bá Quát trước mắt chúng ta, tượng trưng cho tài thơ và tinh thần phản kháng. Còn triết lý của ông chính là bền bĩ phục vụ cho đời. -Sách Văn học 11 và Ngữ văn 11 nâng cao Cao Bá Quát là một nhà thơ lớn. Thơ ông phong phú trong nội dung cảm hứng tình cảm thiết tha gắn bó với quê hương xứ sở, với người thân, sự đồng cảm nhân ái với những con người lao khổ; niềm tự hào với quá khứ lịch sử dân tộc và có thái độ phê phán mạnh mẽ đối với triều chính đương thời. Đặc biệt qua thơ văn, Cao Bá Quát còn bộc lộ một tâm hồn phóng khoáng và một trí tuệ sáng suốt tiếp nhận những hương vị, những màu sắc mới lạ khác với cái nhìn truyền thống. Nhờ tất cả những điều ấy mà thơ văn ông mới mẻ, phóng khoáng, chú trọng tình cảm riêng của con người, được người đương thời rất mến mộ. Xét về vị trí lịch sử, ông là nhà thơ lớn sáng tác bằng chữ Hán kế sau Nguyễn Du. VI. Vài vấn đề liên quan Năm sinh, năm mất Về năm sinh của Cao Bá Quát, sử sách triều Nguyễn không ghi ngày sinh của Cao Bá Quát. Khẳng định ông sinh năm 1809 là căn cứ vào bài “Thiên cư thuyết” của ông. Trong bài có chỗ viết “Với cái tuổi ta mới hai kỷ mà núi sông thành quách cũ, đã thấy thay đổi đến ba lần”. Cuối bài ghi “Tháng mạnh thu, năm Nhâm Thìn, Chu thần thị viết bài thuyết này”. Năm Nhâm Thìn tức là năm 1832 – nếu ông đủ hai kỷ tức 24 tuổi tính theo âm lịch thì tức là ông sinh năm Kỷ Tỵ, Gia Long thứ 8 1809. Về năm mất, có một vài tác giả cho rằng Cao Bá Quát mất năm 1854. Nhưng theo tác giả Trần Công Nghị thì Cao Bá Quát mất ngay tại trận tiền vào tháng Chạp năm Giáp Dần. Khi chuyển qua dương lịch thì Ngày 01 tháng Chạp, năm Giáp Dần nhằm ngày 18 tháng 01 năm 1855. Ngày 30 tháng Chạp, năm Giáp Dần nhằm ngày 16 tháng 02 năm 1855. Như vậy nguyên tháng Chạp năm này đều rơi vào năm 1855. Cho nên năm qua đời của Cao Bá Quát phải ghi là năm 1855 mới đúng. Những giai thoại Hiện vẫn còn tồn tại nhiều giai thoại liên quan đến nhân cách và tài thơ của Cao Bá Quát như Bịa thơ tài hơn vua, Chữa câu đối của vua, Cá nuốt người- người trói người, Trên dưới đều chó, Câu thơ thi xã Tuy nhiên, theo GS. Vũ Khiêu thì đa phần chúng đều thiếu căn cứ và chưa được xác minh. Bởi vậy theo ông chỉ có thể hiểu Cao Bá Quát và đánh giá đúng tư tưởng cùng hành động của ông trên cơ sở phân tích nguồn gốc xã hội, diễn biến trong cuộc đời và trong thơ văn của ông mà thôi. Ở một đoạn khác, giáo sư lại viết Khác với một số giai thoại có ý nói Cao Bá Quát là một con người kiêu căng, ngỗ ngược; và qua số một bài thơ cùng bài hát nói được gán cho ông, có người còn muốn coi ông là kẻ thích hưởng lạc, chè rượu, trai gái… Trái lại, qua cuộc đời và thơ văn ông, chỉ thấy ông là một người biết giữ gìn phẩm hạnh, đối xử đúng mực với cha mẹ, anh em, vợ con, hàng xóm và biết yêu quí đất nước, quê hương. Đề cập đến Trần tình văn [4] của Cao Bá Nhạ, theo giáo sư thì rất có thể người cháu này đã đỗ lỗi cho chú để minh oan cho mình. V. Thơ liên quan Không chỉ tác phẩm của Cao Bá Quát bị thu đốt, cấm tàng trữ và lưu hành; mà những bài thơ của các tác giả khác có nói đến ông đều không được in ấn hay phổ biến. Sau đây là hai bài thơ còn sót lại Nghe tin Cao Bá Quát bị bắt đi hiệu lực, buồn rầu Thương Sơn công tức Tùng Thiện Vương đã làm bài thơ như sau Giữa đất trời một tấm thân khốn khổ Nơi chân trời chỉ có hình và bóng tự thân thiết với nhau. Vườn cũ, ba lối cúc tùng hoang lấp Đêm tàn, trong sương gió nhớ hai người. Nghĩ đến chuyện sừng ngựa không mọc, luống rơi nước mắt [5] Muốn bói ngày về lại chẳng có nguyên do Tình bạn bè vì ông, ngoảnh nhìn về phương Nam lo lắng Ngày này bao lần trông được ân xá. Dịch nghĩa bài Tặng Cao Bá Quát Nghe tin ông mất, bạn ông là danh sĩ Nguyễn Văn Siêu [6] có bài thơ truy điệu, được dịch ra rằng Đàn còn bên vách, sách bên màn Một giấc nghìn thu bặt tiếng vang, Điên đảo non sông nhòa lối cũ, Âm thầm đất nước ngấm bi thương. Duyên văn đã kết đây cùng đó, Nghĩa cũ dù ai nhớ chẳng buồn! Đạo học tỏ mờ chưa dễ biết, Cửa người khép nép mãi sao đương. Sau này, khi đọc tập thơ Cao Bá Quát, nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã cảm khái làm ba bài thơ đề hậu, trích một Ừ, thế non sông mới thấy tài, Tài cao há lẽ núp như ai. Xung lên, trời muốn hai tay đấm, Hứng tới, vời toan một cẳng bơi. Mây gió xoay tròn đầu ngọn bút, Càn khôn chốt lỏng nửa tròng ngươi. Khí thiêng đất nước còn nguyên đó, Chín suối ai ơi đứng dậy cười! Chú thích [1] GS. Phạm Thế Ngũ giải thích Vì ông không chịu khuôn phép trường quy. Như có lần, ông viết quyển thi bằng bốn kiểu chữ chân, thảo, triện, lệ. Ngoài ra, văn ông rất có khí phách ngang tàng. Bởi vậy, mà các khảo quan đâm ra ghét và tìm cách đánh hỏng sách đã dẫn, tr. 438. [2] Nhà ông có lúc không có gạo thổi cơm chiều Bữa chiều không cơm, viết đùa ghi việc. Ông bị bệnh đái ra máu, chạy chữa cả năm mới khỏi. Chi tiết chép theo Thơ văn Cao Bá Quát, tr. 235. [3] Năm Cao Bá Quát rời đi nhận chức giáo thụ ở phủ Quốc Oai ở đây ghi theo Thơ văn Cao Bá Quát Thêm một chứng cứ nữa là trước khi đi, Cao Bá Quát có viết bài đề cuối tập thơ của Tùng Thiện Vương, và ông đã ghi là năm Tự Đức thứ 3 tức 1850. Có sách ghi rất khác Đại Nam chính biên liệt truyện tr. 1052 và Phạm Thế Ngũ tr. 445 ghi năm 1854. Xuân Diệu ghi năm 1851 tr. 13, Nguyễn Lộc ghi năm 1852 Từ điển văn học, bộ mới, tr. 209. [4] Trích Trần tình văn Chú tôi tức Cao Bá Quát cậy tài càn rỡ, vốn tính ngông cuồng, thường bè bạn với bọn rượu chè, kết giao với con buôn, tiếng là ở nhà nuôi mẹ, nhưng thật ra đạo thần tôn vẫn còn thiếu sót. Vả lại túng thiếu đâm ra liều, xoay ra lối kinh doanh trục lợi. Bạn bè khuyên răn thì cãi lại, anh tức Cao Bá Đạt ngăn bảo thì xé cả thư. Cho nên bạn bè vì thế mà tuyệt giao, gia đình vì thế mà sinh bất mục… [5] Sừng ngựa không mọc Mã giác bất sinh Theo Sử ký, Thái tử Đan nước Yên phải sang Tần làm con tin. Vua Tần bảo Chỉ khi nào quạ trắng đầu, ngựa mọc sừng mới cho về. Xem nguyên tác bằng chữ Hán trong Thơ Tùng Thiện Vương sách đã dẫn, tr. 51. Cũng theo sách này thì bài thơ không được in trong Thương Sơn thi tập. Sở dĩ tồn tại là vì trước đó nó đã được đưa vào tập Phong nhã thống biên do vua Tự Đức sai soạn để tặng cho sứ bộ nhà Thanh. [6] Nguyễn Văn Siêu 1795-1872 và Cao Bá Quát đã được vua Tự Đức khen ngợi qua câu thơ Văn như Siêu Quát vô tiền Hán, có nghĩa văn như ông Siêu và ông Quát, thì đến văn đời Tiền Hán cũng không có giá trị gì. Sách tham khảo chính -Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu. Trung tâm học liệu xuất bản, Sài Gòn, 1968 -Phạm Thế Ngũ, Việt Nam Văn học giản ước tân biên quyển trung. Quốc học tùng thư, Sài Gòn, 1963. -Thanh Lãng, Bảng lược đồ văn học Việt Nam quyển thượng. Nxb Trình bày, không ghi năm xuất bản. -Nhiều người soạn, Từ điển Văn học bộ mới, mục từ do Nguyễn Lộc soạn. NXb Thế giới, 2004. -Nhiều người soạn, Thơ văn Cao Bá Quát. Nxb Văn học, 1984. -Xuân Diệu, Các nhà thơ cổ điển Việt Nam tập 2. Nxb Văn học, 1987. Phần II Khởi nghĩa Cao Bá Quát Khởi nghĩa Cao Bá Quát hay Khởi nghĩa Mỹ Lương sử cũ gọi là Giặc Châu Chấu [1] là tên gọi một cuộc khởi nghĩa do Lê Duy Cự làm Minh chủ, Cao Bá Quát 1809-1855 làm Quốc sư, đã nổ ra tại Mỹ Lương thuộc Hà Tây cũ nay thuộc Hà Nội, Việt Nam. Theo GS. Nguyễn Phan Quang, tuy cuộc khởi nghĩa chỉ tồn tại trong khoảng hai năm 1854-1856, nhưng chứng tỏ rằng cho đến giữa thế kỷ 19, phong trào chống triều Nguyễn không hề lắng dịu và sẽ còn tiếp tục trong những năm sau đó với khởi nghĩa Cai Tổng Vàng, khởi nghĩa Chày Vôi…. cảnh Đến giữa thế kỷ 19, nền kinh tế Việt Nam hết sức suy đốn trì trệ. Thêm vào đó, là các nạn chiếm đoạt và tập trung ruộng đất của giới địa chủ, sự tham nhũng của nhiều quan lại, chế độ tô thuế và lao dịch khắc nghiệt; là các nạn bão lụt, hạn hán, ôn dịch và vỡ đê xảy ra luôn. Tất cả đã đẩy người dân lao động xuống tận đáy khốn cùng. Một bài vè lưu hành ở thời vua Tự Đức có đoạn mô tả cảnh đói khổ, lưu vong của dân như sau trích Cơm thì chẳng có Rau cháu cũng không Đất trắng ngoài đồng Nhà giàu niêm kín cổng Còn một bộ xương sống Vơ vất đi ăn mày Ngồi xó chợ lùm cây Qua kêu vang bốn phía Xác đầy nghĩa địa Thây thối bên cầu Trời ảm đạm u sầu Cảnh hoang tàn đói rét Dân nghèo cùng kiệt Kẻ lưu lạc tha phương Người chết chợ chết đường… …Là cái thời Tự Đức. Cuối cùng những nỗi hờn căm vì bị bốc lột, bị áp bức…biến thành những làn sóng đấu tranh quyết liệt của nhân dân lao động ở nhiều miền trên đất nước, chống lại chế độ thống trị của nhà Nguyễn. Chỉ tính riêng khoảng thời gian từ 1847 đến 1862, tức trước khi vua Tự Đức ký hòa ước nhường cho Pháp 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ, đã có hơn 40 cuộc nổi dậy, trong đó có cuộc khởi nghĩa Cao Bá Quát 1854-1856 ở Hà Tây nay thuộc Hà Nội là tiêu biểu nhất. II. Nguyên nhân trực tiếp Năm 1850 [2], không được lòng một số quan lớn tại triều, Cao Bá Quát phải rời kinh đô Huế đi làm Giáo thụ ở phủ Quốc Oai Sơn Tây. Một lần nữa, ông lại trở về quê để cùng khổ với dân, để suy nghĩ thêm về những chính sách hà khắc của triều đình và thêm quyết tâm đánh đổ triều đình. Giữa năm 1853, lấy cớ về nuôi mẹ già, ông xin thôi dạy học. Vào tháng 6, tháng 7 năm ấy tại miền Bắc, châu chấu bay mù trời, lúa má bị chúng cắn sạch, nạn đói hoành hành, mọi người đều ta thán. Theo một số nhà nghiên cứu thì nhân lúc ấy, Cao Bá Quát đã đứng lên tụ tập nhân dân hoặc tham gia lãnh đạo bí mật chuẩn bị một cuộc khởi nghĩa chống Nguyễn tại Hà Nội. Đề cập đến vấn đề này, GS. Nguyễn Phan Quang viết Thực ra, cũng như bao sĩ phu khác, Cao Bá Quát vào đời bằng con đường khoa cử và muốn giúp đời bằng con đường làm quan, nhưng càng ngày ông càng cảm thấy bế tắc. Hàng ngày, ông nhìn thấy bao cảnh đói khổ của nông dân và bất công của xã hội. Tuy có lúc ông tỏ ra bi quan chán nản, nhưng vốn tính kiên cường, ông không thể tìm lối thoát nào khác ngoài con đường vùng dậy đấu tranh. Và cuộc khởi nghĩa do chính ông vận động và tổ chức là một hệ quả tất yếu. III. Diễn biến Chuẩn bị Phần thì phẫn chí, phần thì thương dân như vừa nêu sơ lược ở phần trên, Cao Bá Quát bí mật liên hệ với những thổ mục người dân tộc ở Tây Bắc là Vũ Kim Thanh, Đinh Công Mỹ, Bạch Công Chân… Rồi dựa vào lòng người còn tưởng nhớ tới nhà Lê, ông suy tôn một người thuộc dòng dõi ấy làm minh chủ đó là Lê Duy Cự, còn tự mình lãnh chức Quốc sư. Để nêu rõ ý nghĩa của cuộc nổi dậy, ông cho thêu hai dòng chữ lớn trên lá cờ, đó là Bình Dương, Đồ Bản vô Nghiêu Thuấn; Mục Dã, Minh điều hữu Võ Thang. Tạm dịch Ở Bình Dương và Đồ Bản không có những ông vua tốt như vua Nghiêu, vua Thuấn; Thì ở Mục Dã, Minh Điều phải có những người như Võ Vương, Thành Thang nổi dậy. Chẳng bao lâu sau, ông tập hợp được một lực lượng đông đảo, chủ yếu là những nông dân nghèo khổ ở miền xuôi và trung du. Ngoài ra, còn có mặt của giới trí thức, giới võ quan và lang đạo Mường, như Tiến sĩ năm 1838 Đinh Nhật Thận người Nghệ An, nguyên là Hàn lâm biên tu, Vũ Văn Đống, Vũ Văn Úc cả hai đều là người Hưng Yên, học trò của Cao Bá Quát, Nguyễn Kim Thanh hào mục, Đinh Công Mỹ Lang đạo Mường, Nguyễn Hữu Vân Suất đội thủy vệ Hà Nội, Bạch Công Trân Suất đội cơ Sơn Dũng tỉnh Sơn Tây… Công cuộc còn đang trong giai đoạn chuẩn bị, thì bị người tố giác. Vua Tự Đức liền lệnh cho Tổng đốc Hà Ninh Lâm Duy Hiệp GS. Vũ Khiêu ghi Lâm Duy Thiết, Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên Nguyễn Bá Nghi, hiệp cùng Tổng đốc Bắc Ninh là Nguyễn Quốc Hoan đi truy bắt “đảng nghịch”. Để nhanh chóng đánh dẹp, nhà vua còn phái Vệ úy Hoàng thành Huế đem ngay một vệ lính tuyển phong, 15 võ sinh cùng 20 súng thần cơ ra ngay Hà Nội để hỗ trợ việc tiễu phạt. 3. 2 Đối đầu Trước cục diện này, Cao Bá Quát đang ở Bắc Ninh vội trở về Sơn Tây bàn ngày khởi sự. Do lực lượng ở các tỉnh chưa được chuẩn bị chu đáo, nên khi lệnh khởi nghĩa được phát ra thì chỉ có nghĩa quân ở Mỹ Lương huyện Mỹ Lương tỉnh Sơn Tây, nay là phần đất phía Tây huyện Chương Mỹ Hà Nội và đất huyện Kim Bôi Hòa Bình do Cao Bá Quát và Đinh Công Mỹ trực tiếp chỉ huy là kịp nổi lên. Trận mở đầu xảy ra vào tháng 11 âm lịch 1854 tại Ứng Hòa. Sau khi đánh chiếm được phủ thành này, Cao Bá Quát cho quân tiến lên hướng Bắc đánh chiếm luôn huyện lỵ Thanh Oai cả hai đều thuộc Hà Nội. Nhưng chiếm giữ hai lỵ sở trên chỉ trong mấy ngày, sau đó ông cho chuyển hướng tấn công nơi khác. Tháng 12 âm lịch 1854, cánh trung quân do Đô thống Nguyễn Văn Tuân chỉ huy từ Thanh Oai tiến đến Hà Nội, thì gặp quân triều đón đánh ở khu vực xã Đồng Dương và Thạch Bích cả hai đều thuộc huyện Thanh Oai thời nhà Nguyễn, nay là Đồng Mai Hà Đông và Bích Hòa Thanh Oai. Cuộc chiến diễn ra ác liệt, quân của đôi bên đều bị chết nhiều. Nhưng vì yếu kém hơn về người và vũ khí, nên sau đó cả đoàn nghĩa quân bị đánh tan, các thủ lĩnh là Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Đình Huấn, Hoàng Đình Nho, Lê Văn Trường…đều lần lượt bị bắt. Cũng khoảng thời gian này, một cánh nghĩa quân khác đang trên đường tiến đánh huyện lỵ Kim Bảng nay thuộc tỉnh Hà Nam, thì bị đoàn quân của Lãnh binh Lê Tố đón đánh tan ở chân núi Quyển Sơn bên bờ sông Đáy, cách huyện lỵ trên khoảng 4 km. Còn Cao Bá Quát sau khi cho quân rút khỏi Ứng Hòa và Thanh Oai, liền tiến đánh huyện Yên Sơn Yên Sơn thời nhà Nguyễn và vây phủ thành Quốc Oai. Đốt phá phủ thành xong, nghĩa quân đón đánh quân triều do Tổng đốc Nguyễn Bá Nghi chỉ huy. Cuộc giao tranh nổ ra ác liệt tại làng Sài Sơn, cách phủ thành 4 km. Rồi cũng vì không cân sức, quân khởi nghĩa buộc phải rút lui về huyện Phúc Thọ thuộc phủ Quảng Oai. Bị truy đuổi, Cao Bá Quát lại cho quân vượt sông Hồng sang phủ Vĩnh Tường tỉnh Sơn Tây thời nhà Nguyễn, nay thuộc Vĩnh Phúc. Tiếp theo, sau một lần tấn công đốt phá phủ thành Tam Dương ở địa phận xã Tích Sơn ngoại vi thị xã Vĩnh Yên ngày nay, cánh quân chủ lực do họ Cao chỉ huy đã giảm sút nhiều, nên phải quay về Mỹ Lương hội quân với thủ lĩnh Bạch Công Trân, rồi cùng lo chấn chỉnh đội ngũ, lấy nghĩa binh miền núi bổ sung lực lượng. Trong khi đó, nhà vua điều thêm 500 lính từ Thanh Hóa đến Sơn Tây hỗ trợ, lại cử thêm Đô đốc Nguyễn Trọng Thao đang làm nhiệm vụ phòng giữ kinh thành Huế, ra Hà Nội trực tiếp chỉ huy cuộc đàn áp, và còn xuống dụ treo thưởng rằng Không kể quan, quân, dân, dõng hoặc người theo bọn giặc; người nào bắt sống được Cao Bá Quát đem giải quan thì thưởng cho 500 lạng bạc, giết chết thì thưởng 300 lạng, lại còn thưởng thụ chức hàm để khuyến khích. Tàn cuộc Sau khi bổ sung lực lượng chủ yếu là người Mường và người Thái ở vùng rừng núi Mỹ Lương, vào tháng Chạp năm Giáp Dần tháng Chạp năm này rơi vào năm dương lịch 1855[9], Cao Bá Quát đem quân tấn công huyện lỵ Yên Sơn lần thứ hai. Phó lãnh binh Sơn Tây Lê Thuận đem quân nghênh chiến. Cuộc đối đầu đang hồi quyết liệt tại vùng núi Yên Sơn, theo sử nhà Nguyễn, thì Cao Bá Quát bị Suất đội Đinh Thế Quang bắn chết tại trận. Tiếp theo, thủ lĩnh Nguyễn Kim Thanh và Nguyễn Văn Thực cũng lần lượt sa vào tay đối phương sau, cả hai đều bị chém chết. Ngoài những thiệt hại này, hơn trăm nghĩa quân bị chém chết và khoảng 80 nghĩa quân khác bị bắt. Nghe tin đại thắng, vua Tự Đức lệnh cho ban thưởng và cho đem thủ cấp của nghịch Quát bêu và rao khắp các tỉnh Bắc Kỳ rồi giã nhỏ quăng xuống sông. Mặc dù mất Quốc sư và nhiều thủ lĩnh, nhưng nghĩa quân vẫn cố hoạt động thêm một vài năm nữa. Trần Trọng Kim viết Cao Bá Quát chết đi rồi, Lê Duy Cự còn quấy rối đến mấy năm sau mới dẹp yên được. Từ đó trở đi, không năm nào là năm không có giặc…. Và sau lần tiến đánh không thành công ở huyện lỵ Phù Cừ thuộc Hưng Yên, đến năm 1856, đội ngũ nghĩa quân đã gần như tan rã hẳn. Nhìn lại, cuộc khởi nghĩa chỉ mạnh mẽ ở cuối năm 1854 đến đầu năm 1855. Sau những thắng lợi ban đầu ở Ứng Hòa, Thanh Oai, thì nghĩa quân bị đàn áp và khủng bố dữ dội, nên liên tiếp chịu nhiều thiệt hại. Sau trận thua ở Yên Sơn, Cao Bá Quát bị giết chết, sức chiến đấu của nghĩa quân kể như không còn gì. Trận Phù Cừ chỉ phản ánh những cố gắng cuối cùng của nghĩa quân mà thôi. IV. Lý do thất bại Ở nửa đầu thế kỷ 19, cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương, là một trong vài cuộc nổi dậy lớn, tuy ngắn ngủi nhưng có tầm ảnh hưởng sâu rộng. Tuy nhiên, như nhiều cuộc nổi dậy trước và sau nó, mặc dù quyết liệt, nhưng vẫn đi đến thất bại. Theo nghiên cứu chưa đầy đủ, thì đây cũng chỉ là một cuộc nổi dậy mang đậm tính địa phương riêng rẽ, tổ chức chưa được chu đáo, chiêu bài phò Lê đã mất tính chất hấp dẫn, thiếu một phương thức chiến đấu, thế lực hào mục yếu ớt, vũ khí hãy còn thô sơ,…Vì lẽ ấy, cuộc khởi nghĩa sớm bị đập tan bởi sự trấn áp mạnh mẽ bằng quân sự của triều Nguyễn. V. Vài vấn đề liên quan Tuy thất bại, nhưng cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương và cái chết của Cao Bá Quát cũng đã gây được một tiếng vang lớn, và đã làm xúc động nhiều người. Vì vậy, có nhiều giả thuyết và giai thoại liên quan đến cuộc đời ông. Về vai trò Cao Bá Quát trong cuộc khởi nghĩa Minh Lương, hiện tồn tại hai ý kiến •Một, ông chính là người khởi xướng. Theo ý này có Vũ Khiêu, Nguyễn Phan Quang,… •Hai, ông chỉ là người đi theo hoặc được mời rồi cùng tham gia lãnh đạo. Theo ý này có Trần Trọng Kim, Nguyễn Lộc, Nguyễn Q. Thắng, Nguyễn Bá Thế, Phạm Thế Ngũ, Nguyễn Anh,… Một vấn đề nữa, đó là Có người cho rằng Cao Bá Quát nổi dậy không phải vì thương dân mà chỉ vì bất mãn cá nhân, trong số này có sử gia Trần Trọng Kim. Ông viết Cao Bá Quát có tiếng là người văn học giỏi ở Bắc Kỳ, mà cứ bị quan trên đè nén, cho nên bức chí, bỏ quan về đi dạy học, rồi theo bọn ấy Lê Duy Cự xưng là Quốc sư để dấy loạn ở vùng Sơn Tây và Hà Nội. Có người lại cho rằng ông làm loạn là do bất mãn vì địa vị quan điểm của Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện, là do ông có tính tình ngỗ ngược, hay chửi đời, bị nhiều người ghét quan điểm của Cao Bá Nhạ trong Trần tình văn [3], của nhà văn Trúc Khê trong Cao Bá Quát danh nhân truyện ký, là do ông bị ám ảnh “cái mộng đế vương” không rõ tác giả, tập san Bách Khoa số 142, ra ngày 15 tháng 12 1962 tại Sài Gòn. Có người lại cho rằng Cao Bá Quát không có ý “làm phản”, mà chỉ là người bị Tổng Đốc Nguyễn Bá Nghi vu cáo, vì hiềm riêng [4]. Trong số này có Kiều Oánh Mậu, Phạm Văn Sơn. Quan điểm của GS. Vũ Khiêu Chỉ có thể hiểu Cao Bá Quát và đánh giá đúng tư tưởng và hành động của ông trên cơ sở phân tích nguồn gốc xã hội và diễn biến trong cuộc đời ông. Cao bá Quát là một trí thức xuất thân từ một gia đình nhà nho nghèo. Những cảnh đói rét khổ cực ở khắp nơi hàng ngày day dứt ông làm cho ông phải luôn suy nghĩ mong tìm ra cách giải quyết. Chế độ phong kiến hà khắc, vua quan ngày một tỏ ra bất tài và nguy cơ mất nước cho phương Tây đã khiến ông căm ghét triều đình nhà Nguyễn. Từ chỗ phê phán và phản kháng nó điều này rất dễ thấy trong thơ văn ông, ông đã tiến tới nổi dậy đánh đổ nó… Đây cũng phải là sự “nổi loạn”, mà chính là sự phản kháng bắt nguồn từ phẩm chất của ông. Thập tải luân giao cầu cổ kiếm, Nhất sinh đê thủ bái hoa mai Có nghĩa Mười năm bàn đạo giao du, khó như tìm gươm cổ, Một đời ta chỉ cúi đầu sùng bái hoa mai. Hai câu đối rất được truyền tụng này của Cao Bá Quát đã phản ánh đầy đủ tinh thần phản kháng của ông. Chúng vừa nói lên khí phách anh hùng, quyết tâm đứng lên trừ bạo cứu dân, vừa bộc lộ một tâm hồn trong sạch thanh cao, đẹp như hoa mai trắng. Về một số giai thoại Có người vì mến phục chí khí Cao Bá Quát, mà phao lên rằng trong nhà ngục, ông có làm cặp đối Một chiếc cùm lim chân có đế/ Ba vòng xích sắc bước thì vương. Hoặc trước khi thụ án, họ Cao còn ngâm Ba hồi trống giục mồ cha kiếp/ Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời. Cũng có người phao lên rằng khi họ Cao bị giải về Hà Nội, vì muốn cứu ông, mà ai đó đã đem một người tù phạm có nét mặt giống ông để thay vào, rồi đưa ông lên Lạng Sơn, giả làm nhà sư để lánh nạn. Lại có người cho rằng ông không bị hành hình ở khu vực Hàng Hành Hà Nội ngày nay, mà là ông bị chém chết ở làng Phú Thị với hai con Bá Phùng, Bá Thông và nhiều quyến thuộc. Trước khi soạn quyển Thơ văn Cao Bá Quát xuất bản năm 1984, nhóm tác giả trong đó có GS. Vũ Khiêu, đã về làng Phú Thị, đến phủ Quốc Oai và vùng đất Mỹ Lương. Mặc dù, sau cuộc khởi nghĩa, cả dòng họ ông bị quan quân săn đuổi, Văn thơ ông bị thiêu hủy và cấm tàng trữ…nhưng qua những gì còn sót cũng đủ để GS. Vũ Khiêu kết luận rằng Những câu chuyện trên đây đều không có căn cứ, vì đã được dựng lên do những tình cảm khác nhau của người ta đối với ông mà thôi. Cao Bá Quát tử trận là điều có thật, đúng như sử nhà Nguyễn đã chép. Và không phải ngẫu nhiên mà triều đình nhà Nguyễn đã khen thưởng và thăng chức Cai đội cho Đinh Thế Phong, người đã bắn chết ông. Bùi Thụy Đào Nguyên, soạn Chú thích [1] Sử gia Trần Trọng Kim giải thích Nhân vì mùa tháng năm ấy 1854 ở vùng tỉnh Bắc Ninh và Sơn Tây có nhiều châu chấu ra phá hại mất cả mùa màng, rồi đến cuối năm lại có giặc ấy, cho nên người thời bấy giờ gọi là giặc châu chấu Việt Nam sử lược, tr. 501. [2] Năm Cao Bá Quát rời đi nhận chức giáo thụ ở phủ Quốc Oai ở đây ghi theo Thơ văn Cao Bá Quát Thêm một chứng cứ nữa là trước khi đi, Cao Bá Quát có viết bài đề cuối tập thơ của Tùng Thiện Vương, và ông đã ghi là năm Tự Đức thứ 3 tức 1850. Có sách ghi rất khác Đại Nam chính biên liệt truyện tr. 1052 và Phạm Thế Ngũ tr. 445 ghi năm 1854. Xuân Diệu ghi năm 1851 tr. 13, Nguyễn Lộc ghi năm 1852 Từ điển văn học, bộ mới, tr. 209. [3] Trong Trần tình văn của Cao Bá Nhạ có đoạn “Chú tôi tức Cao Bá Quát cậy tài càn rỡ, vốn tính ngông cuồng, thường bè bạn với bọn rượu chè, kết giao với con buôn, tiếng là ở nhà nuôi mẹ, nhưng thật ra đạo thần tôn vẫn còn thiếu sót. Vả lại túng thiếu đâm ra liều, xoay ra lối kinh doanh trục lợi. Bạn bè khuyên răn thì cãi lại, anh tức Cao Bá Đạt ngăn bảo thì xé cả thư. Cho nên bạn bè vì thế mà tuyệt giao, gia đình vì thế mà sinh bất mục” . Tuy nhiên, qua cuộc đời và số thơ văn còn sót lại của Cao Bá Quát, thì không thấy con người ông có gì tệ bạc như cháu ông đã viết. Xem chi tiết ở trang Cao Bá Quát. [4] Tương truyền, một hôm Cao Bá Quát ngồi uống rượu với Tùng Thiện Vương, thì có Nguyễn Bá Nghi đến vái chào trước khi trở ra Bắc. Họ Cao không những không lui ra chỗ khác, mà sau đó còn nói rằng “Nguyễn Bá Nghi chẳng biết chính sự thế nào, chứ văn thì còn dốt lắm”. Nghe được, ông Nghi đâm ra thù họ Cao lược theo sách Bản triều bạn nghịch liệt truyện của Kiều Oánh Mậu. Cùng quan điểm này có nhà sử học Phạm Văn Sơn và nhà văn chuyên viết tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật Cái án Cao Bá Quát đăng trên tạp chí Bông Lúa. Theo Phạm Văn Sơn, tr. 158. Sách tham khảo -Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược. Nxb Tân Việt, Sài Gòn, 1968. -Phạm Văn Sơn, Việt sử tân biên quyển 5, tập thượng. Tủ sách sử học Việt Nam xuất bản, Sài Gòn, 1961. -Phạm Thế Ngũ, Việt Nam Văn học giản ước tân biên quyển trung. Quốc học tùng thư, Sài Gòn, 1963. -Nguyễn Phan Quang, Lịch sử Việt Nam 1427-1858, Quyển 2, tập 1. Nxb Giáo dục, 1977 -Nguyễn Phan Quang, Việt Nam thế kỷ 19 1802-1884. Nxb TP. Hồ Chí Minh, 2002. -Nhiều người soạn, Thơ văn Cao Bá Quát. Nxb Văn học, 1984. -Thanh Lãng, Bảng lược đồ văn học Việt Nam quyển thượng. Nxb Trình bày, không ghi năm xuất bản. -Xuân Diệu, Các nhà thơ cổ điển Việt Nam [tập 2]. Nxb Văn học, 1987. -Nguyễn Q. Thắng-Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nxb KHXH, 1992. -Nhiều người soạn, Từ điển Văn học bộ mới, mục từ do Nguyễn Lộc soạn. NXb Thế giới, 2004. -Nhiều người soạn, Danh nhân đất Việt quyển 3. Nxb Thanh Niên, 1995. -Thái Vũ, Chuyện hay nhớ mãi. Nxb Thuận Hóa, 1987. Nguồn bài đăng
câu chuyện về cao bá quát